Ô nhiễm nước thải dệt nhuộm do thuốc nhuộm và tác hại của nó

Ngày 19-12-2016 - Đăng bởi: xulynuocthai
  1. Ô nhiễm nước thải dệt nhuộm do thuốc nhuộm và tác hại của nó
  2. Ô nhiễm nước thải dệt nhuộm do thuốc nhuộm

– Ô nhiễm nước thải dệt nhuộm phụ thuộc các hóa chất, chất trợ, thuốc nhuộm và công nghệ sử dụng. Đối với nước thải dệt nhuộm thì nguồn ô nhiễm do chất trợ và hóa chất dệt nhuộm có thể được giải quyết bằng các phương pháp truyền thống, trong khi đó, ô nhiễm do thuốc nhuộm trở thành vấn đề chủ yếu đối với nước thải dệt nhuộm. Thuốc nhuộm sử dụng hiện nay là các thuốc nhuộm tổng hợp hữu cơ.

Nồng độ thuốc nhuộm trong môi trường nước tiếp nhận đối với các công đoạn dệt –

nhuộm phụ thuộc các yếu tố:

–  Mức độ sử dụng hàng ngày của thuốc nhuộm

–  Độ gắn màu của thuốc nhuộm lên vật liệu dệt

–  Mức độ loại bỏ trong các công đoạn xử lý nước thải

–  Hệ số làm loãng trong nguồn nước tiếp nhận

– Mức độ gắn màu là một yếu tố quan trọng, nó phụ thuộc vào độ đậm màu, công nghệ áp dụng, tỷ lệ khối lượng hàng nhuộm và dung dịch nước dùng trong máy nhuộm, vật liệu dệt và thuốc nhuộm sử dụng. Tổn thất thuốc nhuộm đưa vào nước trung bình là 10% với màu đậm, 2% với màu trung bình và <2% với màu nhạt.

Trong in hoa thì tổn thất thuốc nhuộm có thể lớn hơn nhiều.

  1. Tổn thất thuốc nhuộm khi nhuộm các loại xơ sợi
STT Loại thuốc nhuộm Loại sơ sợi  
1 Axit Polyamit 5 ÷ 20
2 Bazơ Acrylic 0 ÷ 5
3 Trực tiếp Xenlulo 5 ÷ 30
4 Phân tán Polyeste 0 ÷ 10
5 Hoạt tính Xenlulo 10 ÷ 50
6 Lưu hóa Xenlulo 10 ÷ 40
7 Hoàn nguyên Xenlulo 5 ÷ 20

 

Các thuốc nhuộm thường có trong nước thải xưởng nhuộm ở nồng độ 10÷50mg/L. Tuy nhiên nồng độ của chúng trong nước sông tiếp nhận thì nhỏ hơn nhiều. Người ta đã đưa ra giá trị điển hình trung bình là 1mg/L đối với một thuốc nhuộm đơn trong dòng sông [13]. Đây chỉ là giá trị trung bình hàng năm, rất thấp so với thực tế. Tùy theo mức độ sản xuất ngành dệt có những trường hợp nồng độ thuốc nhuộm có thể cao hơn. Ví dụ, công trình của Hobbs đã mô tả tổng quan nồng độ thuốc nhuộm có trong nước sông của Anh [13] như sau:

Bảng 1.2: Nồng độ thuốc nhuộm trong nước sông là kết quả của thuốc nhuộm

thải loại bởi công nghiệp dệt nhuộm

(Kết quả này không tính lượng thuốc nhuộm bị bùn hấp phụ trong hệ thống xử lý)

Đặc điểm quá trình

 

Mức độ Nồng độ thuốc nhuộm

trong nước sông, (mg/L)

 

Nhuộm tận trích sợi bông

bằng thuốc nhuộm hoạt tính

 

Trung bình 5,3

 

Xấu nhất 1555

 

Nhuộm tận trích sợi len bằng

thuốc nhuộm axit

 

Trung bình

 

1,2
Xấu nhất

 

364

 

Với nồng độ như vậy, nước thải dệt nhuộm sẽ có màu thường rất đậm, làm cản trở khả năng xuyên qua của ánh sáng mặt trời, giảm nồng độ hoà tan oxy trong nước. Ngoài ra, thuốc nhuộm được sản xuất có độ ổn định hóa học và độ quang hóa 12 cao để thỏa mãn yêu cầu về độ bền màu của các nhà bán lẻ và người tiêu dùng. Một hậu quả của độ ổn định đó là khi đi vào dòng thải chúng không dễ dàng được phân hủy bởi vi sinh và các phương pháp xử lý thông thường, nhất là thuốc nhuộm hoạt tính.

– Tác hại của việc ô nhiễm thuốc nhuộm Các thuốc nhuộm hữu cơ nói chung được xếp loại từ ít độc đến không độc đối với con người (được đặc trưng bằng chỉ số LD50). Các kiểm tra về tính kích thích da, mắt cho thấy đa số thuốc nhuộm không gây kích thích với vật thử nghiệm

(thỏ) ngoại trừ một số cho kích thích nhẹ. Tác hại gây ung thư và nghi ngờ gây ung thư: không có loại thuốc nhuộm nào nằm trong nhóm gây ung thư cho người. Các thuốc nhuộm azo được sử dụng nhiều nhất trong ngành dệt, tuy nhiên chỉ có một số màu azo, chủ yếu là thuốc nhuộm benzidin, có tác hại gây ung thư. Các nhà sản xuất châu Âu đã ngừng sản xuất loại này, nhưng trên thực tế chúng vẫn được tìm thấy trên thị trường do giá thành rẻ và hiệu quả nhuộm màu cao.

Mức độ độc hại với cá và các loài thủy sinh: các thử nghiệm trên cá của hơn 3000 thuốc nhuộm được sử dụng thông thường cho thấy thuốc nhuộm nằm trong tất cả các nhóm từ không độc, độc vừa, độc, rất độc đến cực độc. Trong đó có khoảng 37% thuốc nhuộm gây độc vừa đến độc cho cá và thủy sinh, chỉ 2% thuốc nhuộm ở mức độ rất độc và cực độc cho cá và thủy sinh. Khi đi vào nguồn nước nhận như sông, hồ,… với một nồng độ rất nhỏ thuốc nhuộm đã cho cảm nhận về màu sắc. Thuốc nhuộm hoạt tính sử dụng càng nhiều thì màu nước thải càng đậm. Màu đậm của nước thải cản trở sự hấp thụ oxy và ánh sáng mặt trời, gây bất lợi cho sự hô hấp, sinh trưởng của các loài thủy sinh vật. Nó tác động xấu đến khả năng phân giải của vi sinh đối với các chất hữu cơ trong nước thải. Các nghiên cứu cho thấy khả năng phân giải trực tiếp thuốc nhuộm hoạt tính

bằng vi sinh rất thấp. Ở Việt Nam, qua số liệu điều tra tại các công ty dệt may lớn 13 đều cho thấy màu nước thải dệt nhuộm chủ yếu do thuốc nhuộm hoạt tính và một phần do các loại thuốc nhuộm không tận trích hết khác gây ra.